Author: batoan

Chả rươi là món ăn khoái khẩu của nhiều người, trên thị trường có nhiều cơ sở, của hàng bán chả rươi nhưng không đảm bảo an toàn cũng như không nguyên chất. Do đó, thay vì đi mua thì mùa rươi đến bạn hãy vào bếp để làm món chả rươi ngon bổ dưỡng này cho gia đình bạn.

Bạn quan tâm:

Các bước làm chả rươi truyền thống Tứ Kỳ

Bước 1: Nguyên liệu cần chuẩn bị

  • Rươi tươi: 0,7kg (tùy vào số người ăn mà các bạn hãy điều chỉnh lượng rươi cho phù hợp)
  • Trứng gà: 2-3 quả
  • Thịt lợn: 200gr
  • Gia vị: hạt nêm + tiêu
  • Vỏ quýt: đây là nguyên liệu không thể thiếu
  • Hành lá, lá lốt, bên cạnh đó bạn cũng có thể cho thêm lá gừng để món ăn thêm lạ vị.
Chọn rươi tươi ngon làm món chả rươi
Chọn rươi tươi ngon làm món chả rươi

Bước 2: Sơ chế nguyên liệu

  • Rươi tươi sống khi mua về các bạn cần nhặt hết những rác bẩn, con ươn chết sau đó tiến hành trần con rươi. Rươi cho vào 1 nồi nước đã được đun sôi ở 90 độ, sau đó dùng đũa đảo nhẹ để cho lông con rươi rụng hết ra. Bạn phải tiến hành nhưn vậy 3 đến 4 lần thì lông rươi mới rụng hết. Sau đó chỉ cần vớt con rươi rồi để cho thật ráo nước.
  • Thịt lợn: thịt lợn sẽ băm nhỏ hoặc cho vào xay. Bạn nên cho thịt lợn nạc, nếu muốn ăn ngậy hơn thì bạn sẽ cho thịt ba chỉ hoặc thịt mông.
  • Vỏ quýt rửa sạch rồi thái chỉ
  • Các nguyên liệu khác cho vào thái nhỏ

✅ MUA CHẢ RƯƠI UY TÍN CHẤT LƯỢNG TẠI: https://charuoi.com/

Bước 3: Tiến hành làm chả rươi

  • Cho con rươi đã ráo nước + thịt lợn xay+ vỏ quýt + hành+ lá lốt+ đập trứng gà vào bát lớn và dùng đũa đánh cho nhuyễn, vừa đánh vừa cho gia vị đánh đều. Đánh đến khi nào ta thấy bát rươi sánh mịn như bột là được. Nếu bạn đánh càng nhuyễn thì khi rán chả thì miếng chả rươi ăn càng mềm, càng ngon. Khi đánh rươi bạn có thể cho vài lát ớt tươi để khi rán món ăn sẽ có vị se se rất ngon. Nhưng nếu không ăn được thì bạn không nên cho ớt.
  • Sau khi đánh xong bạn cho chả dầu lên bếp đun nóng, sau đó múc từng thìa bột rươi nhỏ cho vào rán. Món chả rươi rất nhanh chín cho nên bạn cần vặn nhỏ lửa, khi rán lật đều tay để món ăn chín đều, không bị cháy. Đến khi món ăn có mùi thơm là được
Cho nguyên liệu vào đánh nhuyễn
Cho nguyên liệu vào đánh nhuyễn

Bước 4: Trang trí và cùng thưởng thức

  • Nước chấm: với món chả rươi phải dùng nước chấm. Nước chấm chỉ cần pha loãng nước mắn, cho thêm vài lát ớt tươi, chút hành hoa thái mỏng, vài giọt nước cốt chanh là có thể dùng được.
  • Khi chả rươi rán xong thì gắp ra đĩa và trang trí sao cho thật đẹp mắt để món ăn thêm ngon hơn.

Trên đây là 4 bước vô cùng đơn giản để làm món chả rươi cho gia đình cùng thưởng thức. Bên cạnh đó bạn có thể chế biến thành nhiều món ăn khác ngon hơn như: rươi kho niêu đất, rươi xào củ niễng, rươi nấu măng cũng rất thơm ngon bổ dưỡng.

>> Bạn có biết: Báo Pháp khen món chả rươi tuyệt vời giữa trời đông Hà Nội

 
Read Full Article

Trong số những đặc sản của tỉnh Hải Dương thì bánh gai Ninh Giang là món quà được nhiều người ưa chuộng, trở thành một trong những đặc sản nổi tiếng của xứ Đông.

Bạn quan tâm:

Nguồn gốc của bánh gai là cả một câu chuyện dài

Nghề làm bánh gai Ninh Giang, có từ bao giờ chưa thấy tài liệu nào ghi chép. Đi tìm hiểu về lịch sử nghề làm bánh gai Ninh Giang, chỉ nghe những người đã có tuổi trong làng kể lại rằng: năm ấy thị trấn Ninh Giang (nay là huyện Ninh Giang) bị mất mùa, không còn gì để ăn, có 2 vợ chồng nhà lọ phải lên rừng để kiếm cây lá quả rừng để ăn, họ đã phát hiện ra 1 loại lá có thể ăn được, họ mang về trộn cùng gạo để ăn độn lại thấy rất ngon, thơm, dẻo. Sau đó họ mang về phơi khô để ăn dần. Về sau ăn thấy chán, họ nghĩ ra cách làm cùng với nhân đỗ, gói trong lá, ăn ngon mà lại thấy để được rất lâu. Sau này họ truyền lại cho con cháu, và đã sáng tạo ra chiếc bánh gai thơm ngon như ngày nay. Bên cạnh đó cũng có những câu chuyện khác về truyền thuyết làm bánh gai. Cho nên, khi nói đến bánh gai, không đơn giản chỉ là chiếc bánh đặc sản mà còn là cả lịch sử của một vùng đất anh hùng.

Bánh gai Ninh Giang
Bánh gai Ninh Giang

Làm bánh gai rất công khi

Bánh gai làm khá khó khăn, với nhiều công đoạn tỷ mỷ từ nguyên liệu cho đến cách làm, hơn nữa lãi không cao nên có lúc tưởng chừng người dân nơi đây đã bỏ nghề, nhưng vì lòng yêu thích, sự tự hào ẩm thực quê hương nên nghề vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Nghề làm bánh bao gồm 5 công đoạn chính: làm quả, làm nhân bánh, gói bánh, hấp bánh, đóng gói bánh. Khâu nào cũng hết sức quan trọng và yêu cầu cao. Trong đó khâu làm quả và làm nhân bánh là quan trọng nhất. Làm quả có nghĩa là người làm bánh sẽ nặn tròn bột gạo nếp có nấu với bột lá gai, sau đó làm bẹt ra rồi cho nhân bánh vào giữa. Làm quả yêu cầu phải sao cho đủ độ dẻo, không được quá nát hay quá khô vì nếu không khi hấp bánh rồi để bánh khô sẽ không ăn được. Nhiều nơi bánh làm khô đến lúc nguội bánh rất cứng, có những nơi bánh lại nát quá, khi nguội ăn rất dính, không còn mùi thơm. Công đoạn này phải thật sự khéo, phải có kinh nghiệm thì mới có thể làm được. Nhân bánh phải ngọt đủ độ, phải hài hòa với lớp vỏ ngoài vì vỏ ngoài rất nhạt. Đây cũng là điều không phải ai cũng làm được.

Bánh gai Ninh Giang cũng giống như bánh đậu xanh, bánh đa gấc Kẻ Sặt, bánh lòng Kinh Môn,… đều rất được người tiêu dùng yêu thích. Bạn có thể tham khảo tại đây

 

Read Full Article

Ở mỗi vùng quê đều có những đặc sản riêng biệt, ở Hải Dương cũng có những đặc sản nổi tiếng được nhiều người yêu thích và biết đến. Trong đó có bánh đa gấc là đặc sản vô cùng nhiều người thích, trở thành món quà yêu thích của cả trẻ em và người lớn tuổi.

Bạn quan tâm:

Đến thăm mảnh đất Hải Dương bạn sẽ thắc mắc rằng tại sao ở nơi đây huyện nào cũng làm bánh đa nhưng chỉ có huyện Kẻ Sặt thì mới trở thành đặc sản nức tiếng được nhiều người dù ở các tỉnh thành khác yêu thích? Đó cũng chính là nhờ bí quyết gia truyền cũng như cách làm tỷ mỷ, chất lượng của những nghệ nhân làm bánh.

Bánh đa gấc Kẻ Sặt
Bánh đa gấc Kẻ Sặt

Để có thể làm ra những cuộn bánh đa người làm phải rất công phu và nhiều công đoạn, từ khâu chọn nguyên liệu, đến khâu sơ chế và khâu làm bánh. Ở khâu nguyên liệu làm ra bánh phải được lựa chọn rất kỹ lưỡng vì nếu chỉ chọn qua loa thì bánh sẽ không ngon và thơm.  Gạo thì phải to, hạt đều, tơi, và đủ độ già không được non hay chưa đủ nắng. Vừng cũng phải chọn loại vừng tốt, người dân huyện Kẻ Sặt chuyên dùng vừng tấm vì đây được đánh giá là loại vừng ngon nhất để làm nên bánh đa. Lạc được chọn phải là loại lạc già, nhân to, mẩy. Dừa phải chọn loại già, hạt căng mẩy. Nguyên liệu phải đảm bảo đúng chuẩn như trên thì mới có thể tạo được độ ngon, cũng như mùi thơm cho bánh mà không 1 bánh đa ở vùng nào có được hương vị này.
Sau khi đã lựa chọn được những nguyên liệu “chuẩn”, người làm bánh ngâm gạo trong nước sạch khoảng từ 1 đến 2 tiếng hoặc nhiều hộ gia đình ngâm qua đêm cũng đều được rồi mới cho vào cối xay để xay thành bột. Trong qua trình xay gạo, người làm xay gạo người làm phải vừa xay vừa cho nước vào. Đây là công việc tương đối khó vì cho nước chỉ áng chừng nhưng phải làm sao không được quá khô cũng không được quá nhão. Để có được nước bột vừa có vị ngọt, lại có vị của gừng tươi, những người làm bánh đã đun chảy đường và hòa với bột; gừng tươi thì được giã nhỏ và lọc lấy nước. Nhiều nơi không giã gừng, chỉ thái thật nhỏ, nhưng như vậy thì có khi ăn bánh người thưởng thức sẽ gặp phải những miếng gừng cay, hay chỉ tập trung độ cay 1 chỗ, như vậy sẽ rất mất khách. Ngoài nước bột ngọt vị đường và thơm vị gừng, bánh còn được gia thêm vừng, lạc thái mỏng và dừa. Vừng đem ngâm, xát bỏ vỏ; lạc sống được thái thật mỏng, sau đó sảy bỏ vỏ. Dừa thái mỏng thành từng sợi.

Không giống như những loại bánh đa ở những địa phương khác, bánh đa gấc Kẻ Sặt đặc biệt hơn bởi được tráng 2 lần. Lần thứ nhất rắc đều vừng, lạc, dừa lên mặt bánh. Sau đó tiếp tục múc một muôi bột nữa đổ lên trên láng đều kín hết, rồi mới đậy vung khoảng 2 phút rồi  mới mở vung ra, lúc này bánh đã chín, dùng ống nứa dài có độ dài cũng như độ to tùy theo người làm bánh để cuộn bánh lại, sau đó đặt lên phên rồi lại cuộc ngược lại với chiều đã cuộn.

Những chiếc bánh được làm bằng chính tay những người nghệ nhân làm bánh, được đảm bảo hoàn toàn chất lượng tuyệt đối. Bánh khi ăn có vị ngọt rất thanh, lại hòa quyện cùng mùi thơm của vừng, lạc, dừa khiến người ăn không thể cưỡng lại được.

Read Full Article

Nhắc đến Hải Dương là nói đến tỉnh thành với nền văn hóa ẩm thực lâu đời, với nhiều của ngon vật lạ và cả những sản vật khi trước tiến vua. Trong vô vàn của ngon ấy, thì con rươi là đặc sản mà hiện này đang được rất nhiều người tiêu dùng yêu thích và trở thành niềm tự hào của nhân dân tỉnh Hải Dương.

Bạn tham khảo:

Đặc sản con rươi có từ bao giờ

Câu hỏi này không một ai có câu trả lời chính xác, chỉ biết rằng từ thời cha ông ta khi sinh ra đã có con rươi rồi. Theo như những người già trong làng kể lại rằng, rươi là loài sinh vật sống sâu ở tầng đáy nước, chúng kỳ lạ và bí ẩn không giống bất kỳ loài hải trùng nào. Khi sinh ra con rươi đã có nhiều, nhưng chúng chỉ có theo mùa mà mỗi mua lại kéo dài có vài ngày. Mà giống rươi mỗi lần kéo nhau nổi lên là trời đang nắng trở mưa, đang mưa trở nắng, đang ấm trở lạnh, nơi có rươi thì không sao chứ nơi không có rươi là y như rằng nổi bão. Cũng theo những người già trong làng kể lại, con rươi khi trước to béo hơn con rươi bây giờ rất nhiều, mỗi lần chúng nổi lên là dày đặc cả mặt nước, đỏ au thế nên không ai bán rươi, nhà nào vớt nhà ấy ăn. Việc vớt rươi theo mùa rồi làm món chả rươi như một thói quen, 1 nét đẹp trong cuộc sống của người dân Hải Dương. Chỉ từ khi con rươi nhiều quá phải đem ra ngoài các tỉnh thành khác để tiêu thụ bớt, lúc ấy con rươi mới trở lên “hot” như hiện nay và giá rươi cũng cao ngất ngưởng.

Mùa rươi người dân đi vớt rươi
Mùa rươi người dân đi vớt rươi

Con rươi là “của quý trời cho”

Mặc dù khi trước nhiều như vậy, nhưng hiện nay con rươi ngày càng hiếm. Mỗi mùa rươi đến vớt không được nhiều nên những món ăn từ con rươi lại càng được mong ngóng. Sở dĩ nói rươi là của quý trời cho là vì những lý do sau.

Thứ nhất là rươi vô cùng bí ẩn và hiếm. Cho đến ngày nay thì những câu hỏi về loài rươi như chúng sinh sống như thế nào, giao hợp ra sao, ăn gì để sống thì không ai có câu trả lời. Chỉ theo kinh nghiệm của những người đi trước thì cứ đến “tháng 9 đôi mươi tháng 10 mồng 5” là người dân lại rủ nhau đi vớt rươi vui như trẩy hội. Gọi là mùa chứ chúng chỉ kéo dài có 1 đến 2 ngày rồi tự khác lặn tăm đi đâu mất mà không ai biết được. Vì sự quý hiếm này mà người tiêu dùng vô cùng hứng thú và yêu thích loài sinh vật này.

Thứ 2, con rươi vô cùng bổ dưỡng. Đây là điều đã được các chuyên gia dinh dưỡng hàng đầu chứng minh. Theo đó, trong 100gr rươi chứa tới 92 calo để cung cấp cho cơ thể bao gồm các chất dinh dưỡng như đạm, nước, tro,… trong khi đó trong 100gr thịt bê non chỉ có 87 calo cũng bao gồm các chất dinh dưỡng tương tự, như vậy có thể khẳng định thịt rươi vô cùng bổ dưỡng. Bên cạnh đó món ăn từ con rươi có thể chữa được bệnh nếu kết hợp với củ niễng, theo nghiên cứu củ niễng kết hợp với thịt rươi sẽ tạo ra món ăn chữa được bệnh tim mạch, nóng trong, tiêu chảy,.. cùng một số bệnh lý khác.

Thứ 3, từ con rươi có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng. Từ những món ăn đơn giản như chả rươi, nem rươi, rươi xào củ niễng,.. đến những món ăn phức tạp hơn như rươi kho niêu đất, mắm rươi, lẩu rươi,.. món nào cũng rất ngon và được nhiều người yêu thích. Trong đó món ăn chả rươi và rươi kho niêu đất được đông đảo người dân yêu thích không chỉ ngoài Bắc mà cả trong Nam và các Việt Kiều ở nước ngoài cũng rất yêu thích món rươi kho niêu đất này.

Từ con rươi chế biến được nhiều món ăn ngon
Từ con rươi chế biến được nhiều món ăn ngon

Từ những điều trên ta có thể thấy con rươi là của quý trời cho, là món ăn đặc sản và là niềm tự hào của người dân Hải Dương. Trong những năm tới, món ăn từ con rươi chắc chắn sẽ lan xa, được nhiều người biết hơn nữa vì sự thơm ngon, lạ miệng của món ăn này.

Read Full Article

Nhắc đến đặc sản Hải Dương đầu tiên sẽ nghĩ ngay đến món bánh đậu xanh thơm dịu, ngọt ngào. Ra đời vào đầu thế kỷ 20, bánh đậu xanh Hải Dương đã sớm trở thành sản vật đặc trưng nhất của Việt Nam nói chung cũng như của Hải Dương nói riêng.

Bánh đậu xanh Hải Dương được làm nên từ những sản vật hết sức gần gũi: đậu xanh, đường tinh, mỡ lợn, tinh dầu hoa bưởi. Bánh đậu xanh không quá cầu kỳ mà thật giản dị, mộc mạc nhưng lại chứa đựng hương vị nồng nàn của miền quê Bắc Bộ.

Để làm bánh phải dùng bằng bột đậu xanh nguyên chất, hương thơm thuần khiết không vướng mùi hương liệu công nghiệp. Bánh ngon làm bằng bột ướt, có trộn mỡ, đường vừa phải để tạo độ ngọt thanh và phải béo ngậy, thơm mùi đậu xanh.

Bánh đậu xanh

Đây là loại bánh làm từ hạt đậu xanh thơm hương đậu xanh, hòa quyện với mỡ lợn beo béo. Từ lâu loại bánh này đã trở thành thứ đặc sản mà bất cứ người dân Hải Dương nào cũng phải tự hào.

Tuy nhiên, ở Việt Nam những chiếc bánh đậu xanh làm từ đất Hải Dương này khác biệt rất nhiều so với những miếng bánh đậu xanh từ nơi khác. Hương vị cổ truyền với bàn tay khéo léo, sự tỉ mẩn của người nghệ nhân đã tạo ra những chiếc bánh đậu xanh hảo hạng mà chỉ Hải Dương mới có.

Truyền thuyết kể lại rằng, chiếc bánh giản dị này cũng có một lịch sử phát triển rất li kỳ. Một lần, vua Bảo Đại kinh lý qua Trấn Hải Dương, đã được nhân dân nơi đây dâng lên một loại bánh làm từ đỗ xanh. Vua ăn thấy rất ngon và khen ngợi hết lời. Bánh có hương vị nhẹ nhàng, ngọt, mịn và rất phù hợp khi uống trà. Vua Bảo Đại sau khi về cung đã ban sắc lệnh khen bánh Đậu xanh Hải Dương. Trên sắc có in hình “Rồng Vàng” – biểu tượng Uy quyền của vua. Kể từ đó bánh Đậu xanh Hải Dương có tên mới là: “Bánh Đậu xanh Rồng vàng”.

Cái tên đó cho đến nay vẫn là thương hiệu riêng để phân biệt với các loại bánh Đậu xanh ở các tỉnh khác. Một chiếc bánh Đậu xanh Rồng vàng được làm ra có thể coi là một kì công, kết quả của một nghệ thuật điêu luyện.

Vùng đất đồng bằng sông Hồng trù phú với những sản vật thiên nhiên đã tạo nên loại bánh đậu xanh Hải Dương quyến rũ đến lạ kỳ. Bánh đậu xanh không chỉ được tạo ra bởi những nguyên liệu hảo hạng nhất mà nó còn phải là kết tinh từ bàn tay khéo léo.

Thưởng thức bánh đậu xanh ngon nhất là cùng với chén nước chè Thái Nguyên. Vị ngọt béo của bánh với vị chát, ngăn ngắt đắng của trà làm tôn lên vị ngon của bánh đậu xanh. Nhấm một miếng bánh và chiêu ngụm trà, sẽ cảm nhận được vị ngọt thanh và hương thơm nhẹ nhàng của bánh lan toả.

Read Full Article

Mùa hè đỏ lửa cũng là lúc vườn vải nhuộm một màu đỏ sậm. Từ trên cao nhìn xuống màu xanh của lá cây đã bị màu đỏ của trái vải lấn át, trông giống như những đĩa xôi được nhuộm màu rất khéo.

Khu vườn rộn rã tiếng chim, tiếng cười của các cô thôn nữ xinh đẹp, sực nức mùi hương vải thơm nồng. Trái vải kết thành chùm ở đầu cành, nặng trĩu, nhiều khi không chịu nổi sức nặng của trái, gió mạnh một chút là cành nhỏ tự gãy. Một cành vải bằng cổ tay người lớn cũng được khoảng 100 kg trái chín.

Nếu tháng 5 bạn có mặt ở Thanh Hà, huyện Nam Thanh, Hải Hưng bạn sẽ thấy làng quê như có hội, hội vải. Du khách về quê vải vừa tham quan vừa thưởng thức vải tại chỗ. Xe tải thì chở vải đi nơi khác bán.

Vải thiều

Trái vải thiều lớn cỡ ngón chân cái, tạo thành chùm, vỏ màu đỏ sậm hơi sần sùi. Bóc vỏ ra, bên trong là một lớp cùi trắng nõn, mọng nước, vị ngọt dịu mát, thơm của nước vải ngấm tận chân răng. Đặc biệt, mùi thơm của vải khi ăn xong vẫn còn vương vấn mãi. Vải thiều Thanh Hà hột nhỏ, màu nâu đen, cây vải tuổi càng cao thì hạt càng nhỏ, có nhiều trái gần như không có hạt và lớp cùi dày ngọt lịm, đầy nước.

altTrái vải dễ tiêu hóa, an thần. Dùng vải tươi hay khô đều tốt cả. Vải sấy khô cùi đen lại, dẻo quánh, ngọt vô cùng. Khi ăn, ta có cảm giác như ăn một quả táo Tàu thường có vị thuốc Bắc. Được ăn trái vải sấy khô và uống một ly trà nóng ấm thì thật không còn gì thú hơn. Ở Thanh Hà, nhà nào cũng có bình rượu ngâm vải sấy khô.

Vải thiều

Cây vải tổ của vải Thiều được trồng tại thôn Thuý Lâm xã Thanh Sơn do cụ Hoàng Văn Cơm mang về. Người ta kể rằng Cụ Cơm nguyên là một người phục vụ tại một cửa hàng ăn ở tỉnh Quảng Ninh. Một hôm, có một du khách người Trung Quốc sau khi ăn cơm xong đã dùng tráng miệng bằng một loại quả (?) và khi rời khỏi quán ăn ông ta có để lại một vài quả. Cụ Cơm ăn thử thấy ngon quá, liền mang hạt về gieo ở vườn nhà và mọc lên được 3 cây. Trong 3 cây đó chỉ sống được 1 cây và cây đó vẫn tồn đến ngày nay (khoảng 150 tuổi). Vì vậy, xã Thanh Sơn được coi làn xã hạt nhân của vùng sản xuất vải Thiều. Do chất lượng quả vải đươc nhiều người ưa chuộng nên dần dần được nhân rộng ra các xã lân cận như xã Thanh Xá, xã Thanh khê.

Trong giai đoạn HTX từ năm 1960-1970, hình thành các vườn cây đặc sản và sản xuất theo kế hoạch của nhà nước, cây vải Thiêù được trồng trong vườn nhà của các xã Thanh sơn, Thanh Thuỷ, Thanh Xá, Thanh Khê, Thanh Xuân, Hợp Đức, Thanh Cường, Thanh Hồng, Thanh Bính, Trường Thành. Từ năm 1993, có chính sách địa phương chuyển đổi đất lúa sang trồng vải cây vải thiều được trồng và phát triển trên khắp các xã trong huyện. Căn cứ vào nguồn gốc lịch sử cây vải là những đặc tính đặc biệt của vải thiều Thanh hà, năm 1992 Trung ương hội làm vườn Việt Nam đã công nhận cây vải do ông Hoàng Văn Cơm thôn Thuý Lâm- xã Thanh Sơn- huyện Thanh Hà – tỉnh Hải Dương trồng là cây vải tổ của Việt Nam.

Read Full Article